Chiếc móc sắt vừa được kéo lên khỏi miệng hố ga trên đường Hoàng Văn Thụ, phường Bắc Giang, đã mang theo một mảng chất thải đặc quánh màu vàng xám. Dầu mỡ bám chặt vào cặn thức ăn, khăn giấy và túi nilon, cuộn thành từng mảng dày. Người công nhân phải dùng xẻng gạt nhiều lần, lớp chất thải mới rời khỏi đầu móc.
“Đây không phải bùn, mà là mỡ đã bám lâu ngày”, anh Vàng Mí Sính, công nhân trực tiếp nạo vét tuyến cống, nói rồi tiếp tục đưa dụng cụ xuống hố ga.
Bên cạnh, máy hút bùn vẫn hoạt động liên tục. Tuy nhiên, thiết bị chỉ có thể hút phần bùn loãng và chất thải đã được làm rời. Những lớp dầu mỡ đông cứng quanh thành cống, kết dính với rác và cặn thực phẩm, vẫn phải được công nhân phá và cạo bằng phương pháp thủ công.
Tình trạng tương tự cũng được ghi nhận tại một số vị trí trên đường Thân Cảnh Vân và Minh Khai. Đây là những khu vực có nhiều hộ dân và cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống. Dưới lòng cống, bên cạnh bùn đất, rễ cây và gạch vỡ, dầu mỡ trở thành loại chất thải gây nhiều khó khăn nhất cho lực lượng nạo vét.
Một hố ga, cả tổ công nhân
Theo anh Sính, mỗi loại chất thải trong đường cống cần một phương pháp xử lý khác nhau. Bùn loãng có thể hút bằng máy, rễ cây có thể cắt bỏ, gạch vỡ có thể thu gom. Riêng dầu mỡ tích tụ lâu ngày thường bám chặt vào thành cống và giữ lại các loại rác khác, tạo thành những mảng đặc, dai và trơn trượt.
“Mỡ bám cứng thì máy không thể hút hết. Anh em phải dùng móc phá từng mảng, sau đó cạo và đưa chất thải lên. Khi mỡ đã quấn với túi nilon, khăn giấy và thức ăn thừa, thời gian xử lý kéo dài hơn rất nhiều”, anh Sính cho biết.
Dầu mỡ bám vào găng tay, quần áo bảo hộ và dụng cụ lao động. Mỗi khi lớp cặn bị khuấy động, mùi hôi bốc lên nồng nặc. Mặt đường quanh khu vực thi công luôn trong tình trạng trơn trượt, buộc công nhân phải phối hợp chặt chẽ giữa thao tác thủ công và vận hành máy hút.
Với một hố ga có lượng dầu mỡ tích tụ lớn, đơn vị có thể phải huy động từ 8 đến 10 công nhân cùng phương tiện cơ giới. Thời gian xử lý có thể kéo dài một ngày hoặc lâu hơn, tùy theo phạm vi và độ dày của lớp dầu mỡ bám trong cống.
Điều đáng lo ngại là trên bề mặt, nước vẫn có thể chảy qua, khiến người đi đường khó nhận biết tình trạng bên dưới. Chỉ khi mở hố ga và nạo vét, lực lượng vận hành mới phát hiện lớp mỡ đã bám dày quanh thành cống, làm tiết diện dòng chảy bị thu hẹp. Khi có mưa lớn hoặc lượng nước thải tăng, những vị trí này có nguy cơ trở thành điểm tắc nghẽn.
Dầu mỡ đi đâu sau mỗi bữa ăn?
Ông Hoàng Lê Hưng, Tổ trưởng Tổ nạo vét số 1, Phòng Quản lý tuyến cống thu gom nước thải, Trung tâm Thoát nước và Xử lý nước thải, cho biết dầu mỡ là một trong những loại chất thải gây nhiều khó khăn cho công tác vận hành hệ thống thoát nước đô thị.
Khi còn nóng, dầu mỡ có thể theo nước rửa bát, nước vệ sinh khu bếp chảy vào đường ống. Trong quá trình di chuyển, dầu mỡ nguội dần, bám vào thành ống và giữ lại cặn thức ăn, khăn giấy, túi nilon cùng các loại rác khác. Lớp bám ngày càng dày, khiến dòng chảy chậm lại, phát sinh mùi hôi và làm tăng nguy cơ tắc nghẽn.
“Khác với bùn đất có thể hút bằng thiết bị chuyên dụng, dầu mỡ tích tụ lâu ngày thường phải kết hợp máy móc với lao động thủ công. Một điểm có lượng dầu mỡ lớn không chỉ kéo dài thời gian nạo vét mà còn làm tăng nhân lực, phương tiện và chi phí vận hành”, ông Hưng phân tích.
Tuy nhiên, việc phát hiện dầu mỡ trong một hố ga chưa đủ căn cứ để xác định chất thải phát sinh từ một cơ sở cụ thể. Một tuyến cống có thể tiếp nhận nước thải của nhiều hộ dân, cửa hàng, nhà hàng và công trình. Muốn xác định nguồn xả cần kiểm tra hệ thống đường ống, điểm đấu nối, thiết bị tách mỡ và quy trình thu gom chất thải của từng cơ sở.
Theo lực lượng vận hành, trong quá trình phối hợp kiểm tra hoặc xử lý phản ánh, có trường hợp chủ cơ sở kinh doanh cho rằng mới thuê địa điểm nên chưa nắm được nước thải đang đấu nối như thế nào. Tuy nhiên, việc thay đổi người thuê không làm mất đi trách nhiệm quản lý chất thải phát sinh trong quá trình kinh doanh.

Giữ dầu mỡ trên mặt đất
Bể tách mỡ được lắp đặt tại khu vực bếp để giữ lại dầu mỡ nổi và cặn thực phẩm trước khi nước thải chảy vào hệ thống chung. Đối với một số quán ăn quy mô nhỏ, chi phí đầu tư thiết bị có thể chỉ từ vài triệu đồng, tùy vật liệu, dung tích và điều kiện lắp đặt.
Khoản đầu tư này nhỏ hơn nhiều so với chi phí huy động từ 8 đến 10 công nhân, máy hút và phương tiện chuyên dụng để xử lý một hố ga khi dầu mỡ đã tích tụ dưới lòng cống.
Tuy nhiên, việc lắp đặt bể tách mỡ mới chỉ là bước đầu. Thiết bị phải được vệ sinh định kỳ; dầu mỡ và cặn thực phẩm sau khi tách phải được thu gom, chuyển giao và xử lý đúng quy trình. Nếu không được vệ sinh thường xuyên, bể tách mỡ có thể bị đầy, mất tác dụng và nước thải chứa dầu mỡ vẫn tiếp tục chảy vào hệ thống chung.
Vì vậy, vấn đề không chỉ nằm ở việc cơ sở kinh doanh có lắp bể tách mỡ hay không, mà quan trọng hơn là thiết bị được vận hành như thế nào, chất thải sau khi tách được đưa đi đâu và điểm đấu nối nước thải có bảo đảm đúng yêu cầu hay không.
Nạo vét không thể thay thế quản lý nguồn thải
Thông qua công tác duy tu, Trung tâm Thoát nước và Xử lý nước thải có thể phát hiện các vị trí tích tụ nhiều dầu mỡ, tổ chức nạo vét và cung cấp thông tin cho cơ quan quản lý. Tuy nhiên, việc kiểm tra nguồn xả, xác định trách nhiệm và xử lý hành vi vi phạm cần sự phối hợp của chính quyền địa phương cùng cơ quan chuyên môn có thẩm quyền.
Từ những vị trí đã phát hiện dầu mỡ tích tụ, chính quyền phường Bắc Giang và các cơ quan liên quan cần rà soát các khu vực tập trung nhiều cơ sở kinh doanh ăn uống; kiểm tra điểm đấu nối nước thải, việc lắp đặt và vận hành bể tách mỡ, cũng như quy trình thu gom dầu mỡ và cặn thực phẩm.
Mỗi lần nạo vét, dòng nước có thể được khơi thông trở lại. Nhưng nếu dầu mỡ từ các khu bếp vẫn tiếp tục chảy xuống cống, những mảng bám mới sẽ lại hình thành và công nhân sẽ phải quay lại chính những hố ga vừa xử lý.
Dưới lòng đường, dầu mỡ chỉ là phần hậu quả có thể nhìn thấy. Bài toán thực sự nằm trên mặt đất: chất thải phải được kiểm soát ngay từ nơi phát sinh, trước khi một thói quen nhỏ trong mỗi căn bếp trở thành gánh nặng lớn đối với hệ thống thoát nước đô thị.


