Cập nhật tình hình đến tối ngày 23/8/2026
Bão số 4 (NARRA) đang gây ra một đợt thời tiết đặc biệt đáng lưu ý đối với tỉnh Bắc Ninh. Đây không chỉ là câu chuyện của mưa lớn tại chỗ, mà là tình huống tổng hợp giữa mưa kéo dài, lũ trên các sông lên cao, đất ở khu vực miền núi và trung du đã gần bão hòa, nhiều hồ chứa đầy nước, hệ thống giao thông và tiêu thoát nước cùng chịu áp lực lớn.
Diễn biến này một lần nữa cho thấy công tác thoát nước và chống ngập đô thị cần được nhìn nhận trong tổng thể lưu vực, từ nơi nước mưa hình thành dòng chảy, hệ thống thu gom – cống – kênh – trạm bơm cho đến mực nước tại nguồn tiếp nhận cuối cùng.
1. Bão số 4 diễn biến chậm, nguy cơ mưa lớn kéo dài
Theo Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Quốc gia, lúc 18 giờ ngày 23/8/2026, tâm bão số 4 ở khoảng 20,6 độ Vĩ Bắc, 108,1 độ Kinh Đông, trên vùng biển phía Bắc đặc khu Bạch Long Vĩ, cách Quảng Ninh khoảng 155 km về phía Đông Đông Nam và cách thành phố Hải Phòng khoảng 165 km về phía Đông. Sức gió mạnh nhất vùng gần tâm bão cấp 9, giật cấp 11; trong 3 giờ tiếp theo bão ít di chuyển.
Việc bão di chuyển chậm là yếu tố cần đặc biệt quan tâm bởi hoàn lưu có thể tiếp tục duy trì mưa trên khu vực Đông Bắc Bộ.
Cơ quan khí tượng trước đó cảnh báo, trong đợt ảnh hưởng của bão, Lạng Sơn và Bắc Ninh có tổng lượng mưa phổ biến 200–300 mm, cục bộ có nơi trên 500 mm, đồng thời mưa còn có khả năng kéo dài sau ngày 25/8. Mưa lớn có thể gây ngập tại đô thị, khu công nghiệp và vùng trũng thấp; đồng thời làm gia tăng lũ trên sông suối, lũ quét và sạt lở tại miền núi.
Theo báo cáo nhanh được công bố chiều 23/8, từ chiều ngày 23 đến hết ngày 24/8, Bắc Ninh được dự báo có lượng mưa phổ biến 80–120 mm, có nơi trên 150 mm; riêng khu vực Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam phổ biến 100–150 mm, có nơi trên 150 mm. Đài Khí tượng Thủy văn tỉnh cũng nhận định mưa trên địa bàn có thể tiếp tục đến khoảng ngày 25–26/8.
Như vậy, nguy cơ đối với hệ thống thoát nước không kết thúc khi một trận mưa ngừng, mà có thể kéo dài nhiều ngày do đất đã no nước, hồ chứa đầy và mực nước sông tiếp tục ở mức cao.
2. Nước trên các sông đang ở mức rất cao
Đây là yếu tố đặc biệt quan trọng đối với công tác tiêu thoát nước.
Theo bản tin lũ của Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Quốc gia, lúc 13 giờ ngày 23/8:
-
Sông Lục Nam tại trạm Lục Nam đạt 6,63 m, cao hơn báo động III 0,33 m.
-
Sông Thương tại trạm Phủ Lạng Thương đạt 5,80 m, cao hơn báo động II 0,50 m.
Cơ quan khí tượng cảnh báo trong 6–12 giờ tiếp theo, lũ hạ lưu sông Lục Nam và sông Thương tiếp tục lên; trong 12–24 giờ tiếp theo có khả năng dao động trên báo động III. Cấp độ rủi ro thiên tai do lũ được cảnh báo ở cấp 3.
Báo cáo của tỉnh chiều 23/8 cho biết, lúc 13 giờ, sông Thương tại Cầu Sơn và sông Lục Nam tại Lục Nam, Chũ đều trên báo động III; sông Thương tại Phủ Lạng Thương trên báo động II; sông Cầu tại Đáp Cầu trên báo động I. Đáng chú ý, tổng dung tích các hồ chứa cơ bản đạt 100%, 35/42 hồ đã tràn.
Đối với ngành thoát nước, những thông số này có ý nghĩa rất lớn.
Khi mực nước ngoài sông thấp, nước mưa trong đô thị có điều kiện tiêu tự chảy thuận lợi hơn. Nhưng khi mực nước sông dâng cao, chênh lệch thủy lực giảm, khả năng tiêu tự chảy bị hạn chế, thậm chí một số khu vực phải phụ thuộc nhiều hơn vào bơm cưỡng bức và việc kiểm soát cửa xả.
Vì vậy, chống ngập đô thị trong thời điểm lũ cao không thể chỉ căn cứ vào lượng mưa trong thành phố mà phải đồng thời theo dõi mực nước tại sông nhận nước.
3. Tình hình tại một số địa bàn của tỉnh Bắc Ninh
Theo báo cáo nhanh của Sở Nông nghiệp và Môi trường được công bố chiều 23/8, đến 15 giờ cùng ngày chưa ghi nhận thiệt hại về người.
Tuy nhiên, mưa lũ đã làm ngập úng cục bộ hơn 8,3 nghìn ha lúa, rau màu, cây ăn quả và cây lâm nghiệp; 184 hộ phải di dời đến nơi an toàn. Xã Đèo Gia có 33 hộ bị nước tràn vào nhà; Nam Dương có 330 hộ bị ngập và phải di chuyển tài sản. Toàn tỉnh ghi nhận 71 điểm ngầm tràn, ngập; 19 điểm sạt lở đất và 33 điểm sạt lở taluy âm, taluy dương trên quốc lộ, tỉnh lộ. Đặc biệt, báo cáo ghi nhận 8 trạm bơm bị ngập.
Trong khi đó, đến thời điểm 15 giờ, các khu công nghiệp và khu đô thị trên địa bàn chưa xảy ra ngập lụt, cho thấy hoạt động chủ động tiêu nước đã phát huy tác dụng nhất định. Các đơn vị thủy lợi trong tỉnh đang vận hành 570 máy bơm tiêu.
Tuy nhiên, tại một số khu vực giao thông, tình hình khá nghiêm trọng.
Sáng 23/8, đường tỉnh 289 tại xã Nam Dương có đoạn ngập khoảng 1,6 m; Quốc lộ 31 tại phường Phượng Sơn có đoạn ngập khoảng 0,7 m, phương tiện không thể lưu thông; đường tỉnh 293 tại xã Trường Sơn có vị trí ngập khoảng 0,8 m. Riêng xã Sơn Động còn khoảng 22 vị trí ngập sâu, giao thông tạm thời bị chia cắt.
Ở khu vực miền núi, tình trạng đất no nước cũng cần đặc biệt lưu ý. Trong 24 giờ từ 7 giờ ngày 22/8 đến 7 giờ ngày 23/8, lượng mưa đo được tại Mai Sưu là 81,2 mm, Phong Minh 70,4 mm, Tân Sơn 61,2 mm, Kiên Lao 56,6 mm và Khuôn Thần 54,2 mm. Một số khu vực có độ ẩm đất đạt 85–90% hoặc đã bão hòa.
Các địa bàn được cảnh báo nguy cơ cao gồm Sơn Động, Đại Sơn, Yên Định, Tây Yên Tử, Dương Hưu, An Lạc, Trường Sơn, Lục Nam, Nghĩa Phương, Lạng Giang, Yên Thế, Xuân Lương, Đồng Kỳ, Bố Hạ và một số khu vực lân cận.
Tại nhiều địa phương, lực lượng quân sự, công an và chính quyền cơ sở đã được huy động hỗ trợ di dời dân và tài sản. Đến 14 giờ ngày 23/8, gần 400 cán bộ, chiến sĩ đã tham gia hỗ trợ, trong đó có các khu vực Sơn Động, Lục Ngạn, Trường Sơn, Kép, Đèo Gia và nhiều địa bàn khác.
4. Đặc điểm địa hình khiến bài toán thoát nước của Bắc Ninh không giống nhau ở mọi khu vực
Tỉnh Bắc Ninh sau sắp xếp có địa hình rất đa dạng, trải dài từ đồng bằng, trung du đến miền núi, là vùng chuyển tiếp giữa miền núi phía Bắc và châu thổ sông Hồng.
Tỉnh đồng thời có mạng lưới sông ngòi khá dày đặc với 5 sông lớn là sông Đuống, sông Cầu, sông Thái Bình, sông Thương và sông Lục Nam.
Đặc điểm này tạo ra ít nhất ba dạng bài toán khác nhau:
Khu vực miền núi và trung du: phải đối mặt với dòng chảy tập trung nhanh, lũ suối, ngầm tràn, sạt lở và đất bão hòa.
Khu vực thấp ven sông: chịu tác động trực tiếp của mực nước lũ trên sông, nguy cơ ngập vùng trũng và giảm khả năng tiêu nước.
Khu vực đô thị và khu công nghiệp: bề mặt bê tông hóa lớn làm nước mưa tập trung nhanh; yêu cầu hệ thống hố thu, cống, kênh tiêu và trạm bơm phải hoạt động đồng bộ.
Do đó, không thể sử dụng một giải pháp duy nhất cho toàn tỉnh. Công tác chống ngập phải được xây dựng theo lưu vực, cao độ địa hình, hướng dòng chảy và nguồn tiếp nhận.
5. Bài học thứ nhất: chống ngập phải bắt đầu trước khi mưa lớn xảy ra
Một trong những nguyên tắc quan trọng nhất là phải tạo được “dung tích đón mưa” trước khi mưa lớn đến.
Đối với hồ điều hòa, kênh tiêu, bể hút và các tuyến cống chính, nếu mực nước đã cao từ trước khi trận mưa bắt đầu thì khả năng tiếp nhận nước mới sẽ giảm đáng kể.
Vì vậy cần:
-
chủ động hạ mực nước tại các khu vực có điều kiện trước đợt mưa lớn;
-
kiểm tra bể hút và chế độ vận hành trạm bơm;
-
kiểm tra cửa phai, cửa xả;
-
khơi thông kênh dẫn và tuyến tiêu chính;
-
bố trí lực lượng trực từ trước thời điểm mưa dự báo xuất hiện.
Bài học ở đây là không chờ đường bắt đầu ngập mới vận hành chống ngập.
6. Bài học thứ hai: hố thu và cửa thu nước là “cửa ngõ” của cả hệ thống
Một tuyến cống lớn vẫn có thể không phát huy được năng lực nếu nước trên mặt đường không vào được cống.
Lá cây, rác thải, bùn đất và vật cản thường tập trung nhanh tại miệng thu trong mưa lớn. Chỉ một số điểm thu bị bịt kín cũng có thể hình thành ngập cục bộ.
Vì vậy, trong thời gian có cảnh báo mưa lớn, việc tổ chức lực lượng kiểm tra, vớt rác, vệ sinh miệng thu và cửa hố ga liên tục là biện pháp đơn giản nhưng rất quan trọng.
Công tác nạo vét không chỉ thực hiện theo kế hoạch định kỳ mà cần chuyển dần sang nạo vét dựa trên mức độ rủi ro, ưu tiên các tuyến từng ngập, điểm trũng, tuyến có nhiều bùn lắng và cửa thu thường xuyên bị rác che kín.
7. Bài học thứ ba: phải nhìn toàn bộ “đường đi của nước”
Nước mưa phải đi qua một chuỗi liên tục:
Mặt đường → hố thu → cống nhánh → cống chính → kênh/mương → bể hút → trạm bơm hoặc cửa xả → sông tiếp nhận.
Chỉ cần một mắt xích bị nghẽn thì năng lực của toàn hệ thống có thể giảm mạnh.
Vì vậy, đánh giá chống ngập không nên chỉ kiểm tra từng đoạn cống riêng lẻ mà cần kiểm tra toàn bộ hành trình của dòng nước theo lưu vực.
Đây cũng là lý do công tác số hóa bản đồ hệ thống thoát nước có ý nghĩa ngày càng lớn. Khi biết rõ cao độ, kích thước cống, hướng dòng chảy, cửa xả, trạm bơm và các điểm ngập, đơn vị quản lý có thể xác định nhanh nơi nào là “nút thắt” của lưu vực.
8. Bài học thứ tư: khi sông lên cao, vận hành thoát nước phải thay đổi theo điều kiện thủy văn
Diễn biến ngày 23/8 là ví dụ rất rõ.
Trong vài giờ, sông Lục Nam từ mức xấp xỉ báo động III đã vượt báo động III; sông Thương từ dưới báo động II lên vượt báo động II và tiếp tục tăng.
Khi nước ngoài sông cao, phải thường xuyên kiểm tra:
-
mực nước bể hút;
-
mực nước sông tại cửa xả;
-
khả năng tiêu tự chảy;
-
hoạt động của cửa van, cửa phai, van ngăn triều/ngăn dòng chảy ngược nếu có;
-
tình trạng dòng chảy tại kênh dẫn;
-
chế độ vận hành an toàn của từng trạm bơm.
Do đó, cán bộ vận hành trạm bơm cần được cung cấp đồng thời dữ liệu mưa và dữ liệu mực nước sông, thay vì làm việc dựa trên cảm quan tại trạm.
9. Bài học thứ năm: trạm bơm chống ngập phải được bảo vệ khỏi chính trận ngập mà nó có nhiệm vụ xử lý
Việc báo cáo chiều 23/8 ghi nhận 8 trạm bơm bị ngập là một thông tin rất đáng suy nghĩ đối với công tác quản lý hạ tầng.
Một trạm bơm có công suất lớn nhưng bị mất điện, nước tràn vào thiết bị hoặc đường tiếp cận bị chia cắt thì năng lực chống ngập có thể mất đúng vào thời điểm cần nhất.
Do đó, cần từng bước rà soát:
-
cao độ nền và nhà trạm;
-
khả năng chống nước cho tủ điện, máy biến áp và hệ thống điều khiển;
-
nguồn điện dự phòng;
-
máy phát điện và nhiên liệu;
-
thiết bị bơm dự phòng;
-
đường tiếp cận trạm trong tình huống ngập;
-
vật tư, thiết bị sửa chữa và lực lượng cơ khí ứng trực.
Hạ tầng chống ngập phải có khả năng tự chống chịu trước thiên tai.
10. Bài học thứ sáu: xác định trước “điểm ngập trọng yếu” thay vì xử lý dàn trải
Qua từng trận mưa cần hình thành cơ sở dữ liệu về:
-
vị trí ngập;
-
độ sâu;
-
thời gian bắt đầu ngập;
-
thời gian rút hết nước;
-
lượng mưa;
-
nguyên nhân chính;
-
tuyến cống và hố thu liên quan;
-
trạm bơm phục vụ lưu vực;
-
mực nước sông tại thời điểm ngập.
Từ dữ liệu này có thể xây dựng bản đồ điểm ngập và bản đồ rủi ro thoát nước, phân loại đỏ – vàng – xanh để ưu tiên xử lý.
Đây là cơ sở quan trọng để chuyển từ phương thức “xảy ra ngập mới đi xử lý” sang “dự báo điểm có khả năng ngập để bố trí lực lượng trước”.
11. Bài học thứ bảy: chống ngập cần đồng thời giải pháp trước mắt và đầu tư lâu dài
Kế hoạch phòng, chống thiên tai năm 2026 của UBND tỉnh Bắc Ninh đã xác định nhiều nhiệm vụ liên quan trực tiếp đến nội dung này như kiểm tra hệ thống đê điều, công trình thủy lợi; chủ động phương án tiêu úng bảo vệ khu đô thị, khu công nghiệp và khu dân cư; sửa chữa, nâng cấp công trình tiêu thoát nước; ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số; thực hiện phương châm “4 tại chỗ”.
Đối với hệ thống thoát nước đô thị, từ thực tế bão số 4 có thể tiếp tục nghiên cứu các nhóm giải pháp:
Trước mắt: nạo vét cống, khơi thông dòng chảy, làm sạch cửa thu, kiểm tra trạm bơm, trực vận hành 24/24 giờ tại thời điểm nguy cơ cao.
Trung hạn: xử lý các điểm nghẽn, bổ sung hố thu, cải tạo tuyến cống thiếu năng lực, nâng cấp trạm bơm và nguồn điện dự phòng.
Dài hạn: hoàn thiện bản đồ số hệ thống thoát nước; mô hình hóa lưu vực; bố trí hồ điều hòa và không gian trữ nước; kiểm soát cao độ san nền; bảo vệ hành lang thoát nước tự nhiên; đầu tư hệ thống quan trắc mưa, mực nước và giám sát trạm bơm theo thời gian thực.

12. Từ chống ngập thụ động đến quản lý nước mưa chủ động
Bão số 4 vẫn đang diễn biến, vì vậy chưa thể đưa ra kết luận cuối cùng về toàn bộ đợt thiên tai.
Tuy nhiên, những gì đang xảy ra cho thấy một vấn đề rất rõ:
Thoát nước đô thị không đơn thuần là làm cho nước rút nhanh sau khi đường đã ngập. Công tác thoát nước hiện đại phải bắt đầu từ dự báo mưa, chuẩn bị dung tích đón nước, quản lý toàn bộ lưu vực, theo dõi mực nước sông, vận hành chủ động trạm bơm và xử lý điểm nghẽn trước khi ngập xảy ra.
Đối với Trung tâm Thoát nước và Xử lý nước thải, mỗi đợt mưa lớn cũng chính là một đợt “kiểm tra thực tế” đối với toàn bộ hệ thống.
Những vị trí thoát tốt cần được xác định nguyên nhân để duy trì; những vị trí thoát chậm cần đo đạc và phân tích; những điểm ngập lặp lại cần được đưa vào danh mục ưu tiên đầu tư.
Mục tiêu cuối cùng không phải là khẳng định sẽ không bao giờ xảy ra ngập trong những trận mưa vượt khả năng thiết kế, mà là chủ động hơn, dự báo sớm hơn, vận hành chính xác hơn, giảm diện tích ngập, giảm độ sâu ngập và rút ngắn tối đa thời gian ngập, qua đó bảo vệ an toàn cho người dân, hoạt động sản xuất và hạ tầng đô thị.
Nguồn thông tin tham khảo
-
Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Quốc gia – các bản tin bão số 4, mưa lớn và lũ trên sông Thương, sông Lục Nam ngày 22–23/8/2026.
-
Cục Khí tượng Thủy văn – thông tin bão số 4 NARRA và cảnh báo mưa lớn tại Bắc Ninh.
-
Báo và Phát thanh, Truyền hình Bắc Ninh – Báo cáo tình hình mưa lũ và công tác ứng phó trên địa bàn tỉnh, cập nhật chiều 23/8/2026.
-
Báo và Phát thanh, Truyền hình Bắc Ninh – tình hình ngập và chia cắt giao thông trên các tuyến quốc lộ, tỉnh lộ ngày 23/8/2026.
-
Đài Khí tượng Thủy văn tỉnh Bắc Ninh, thông tin cảnh báo lũ quét, sạt lở và tình trạng độ ẩm đất ngày 23/8/2026, được Báo Bắc Ninh công bố.
-
Cổng Thông tin điện tử tỉnh Bắc Ninh – Tổng quan điều kiện tự nhiên, địa hình và hệ thống sông ngòi tỉnh Bắc Ninh.
-
UBND tỉnh Bắc Ninh – Kế hoạch số 220/KH-UBND ngày 16/6/2026 về phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn năm 2026.
Lưu ý: Tình hình bão, mưa và lũ đang tiếp tục diễn biến. Các số liệu trong bài được xác định theo thời điểm của từng bản tin và cần tiếp tục cập nhật khi cơ quan có thẩm quyền công bố thông tin mới.


