Trong mùa mưa, bão, cán bộ và người lao động làm nhiệm vụ quản lý, vận hành hệ thống thoát nước, trạm bơm thường xuyên nhận được các thông tin như: “mực nước sông đạt báo động I”, “trên báo động II”, “vượt báo động III 0,5 m”….
Vậy Báo động I, Báo động II, Báo động III là gì? Cách đọc và hiểu như thế nào? Đây là kiến thức rất quan trọng đối với cán bộ vận hành các trạm bơm tiêu thoát nước đô thị.
Theo quy định, cấp báo động lũ là sự phân định cấp độ của lũ. Mỗi cấp được xác định bằng một giá trị mực nước cụ thể tại từng trạm thủy văn, phản ánh mức độ nguy hiểm của lũ và khả năng ảnh hưởng đến đê điều, bờ, bãi sông, công trình, dân cư và các hoạt động kinh tế - xã hội. Các cấp báo động lũ được chia thành 03 cấp: Báo động I, Báo động II và Báo động III.
1. Báo động I – Bắt đầu bước vào trạng thái cần tăng cường theo dõi
Báo động I (BĐ I) là cấp báo động đầu tiên.
Khi mực nước sông đạt BĐ I, có thể hiểu đơn giản là nước sông đã lên tới mức cần tăng cường theo dõi và bắt đầu triển khai các biện pháp phòng, chống lũ theo quy định.
Đối với cán bộ trạm bơm, khi sông đạt hoặc tiến gần BĐ I cần:
-
Theo dõi thường xuyên mực nước sông và diễn biến mưa;
-
Kiểm tra mực nước bể hút, cửa xả, cửa van và các công trình liên quan;
-
Kiểm tra tình trạng máy bơm, hệ thống điện và thiết bị dự phòng;
-
Chủ động bố trí lực lượng trực;
-
Theo dõi các bản tin khí tượng thủy văn và chỉ đạo của cơ quan có thẩm quyền.
Có thể nhớ ngắn gọn: BĐ I = Bắt đầu cảnh giác và tăng cường theo dõi.
2. Báo động II – Mức độ nguy hiểm tăng lên, phải chủ động ứng phó
Khi mực nước đạt Báo động II (BĐ II), tình hình lũ đã ở mức cao hơn, nguy cơ ảnh hưởng đến đê điều, vùng ven sông, hệ thống tiêu thoát nước và hoạt động dân sinh tăng lên.
Đối với các trạm bơm, đây là thời điểm cần đặc biệt chú ý đến chênh lệch mực nước giữa phía trong hệ thống thoát nước và phía sông nhận nước.
Cán bộ vận hành cần:
-
Trực nghiêm túc theo phân công;
-
Cập nhật liên tục mực nước sông;
-
Kiểm tra an toàn cửa xả, cửa van, đường ống, hệ thống điện và máy bơm;
-
Theo dõi hiện tượng nước sông dâng cao gây cản trở khả năng tiêu thoát;
-
Tuyệt đối không vận hành theo thói quen mà phải căn cứ điều kiện thực tế, quy trình vận hành và chỉ đạo của cấp có thẩm quyền;
-
Báo cáo ngay khi phát hiện nguy cơ nước sông dâng cao, nước chảy ngược hoặc công trình có dấu hiệu mất an toàn.
Có thể nhớ ngắn gọn: BĐ II = Nguy cơ cao hơn, phải chủ động ứng phó.
3. Báo động III – Mức báo động lũ cao nhất, phải đặc biệt cảnh giác
Báo động III (BĐ III) là cấp báo động lũ cao nhất trong hệ thống 03 cấp báo động.
Khi mực nước đạt hoặc vượt BĐ III, nguy cơ đối với đê điều, khu vực ven sông, công trình hạ tầng và khu dân cư là rất lớn. Công tác trực, kiểm tra và ứng phó phải được đặt ở trạng thái cao.
Trong thực tế, cơ quan chức năng có thể thông báo:
“Mực nước đạt Báo động III”
hoặc
“Mực nước trên Báo động III 0,30 m”
hoặc
“Mực nước vượt Báo động III 1,00 m”.
Ví dụ: nếu BĐ III tại một trạm là 6,30 m, mực nước thực đo là 6,80 m, thì phải hiểu là:
Mực nước đang trên BĐ III: 0,50 m.
Đối với cán bộ trạm bơm, khi đạt hoặc vượt BĐ III phải:
-
Duy trì chế độ trực nghiêm túc;
-
Theo dõi sát mực nước sông và dự báo xu thế nước tiếp tục lên hay đã xuống;
-
Kiểm tra liên tục cửa xả, cửa van và nguy cơ nước sông chảy ngược vào hệ thống;
-
Đặc biệt thận trọng khi vận hành bơm tiêu ra sông;
-
Không tự ý xử lý các tình huống vượt phạm vi quy trình hoặc thẩm quyền;
-
Khi có dấu hiệu bất thường phải báo cáo ngay lãnh đạo Trung tâm và cơ quan có trách nhiệm để xin ý kiến chỉ đạo.
Có thể nhớ ngắn gọn: BĐ III = Mức báo động cao nhất, phải đặc biệt cảnh giác và chấp hành nghiêm quy trình, chỉ đạo vận hành.
4. Không được hiểu “Báo động I, II, III” là mực nước 1 m, 2 m, 3 m
Đây là điểm cán bộ vận hành cần đặc biệt lưu ý.
Báo động I, II, III không phải là mực nước 1 m, 2 m và 3 m.
Mỗi con sông, mỗi trạm thủy văn có một trị số mực nước báo động khác nhau.
Theo Quyết định số 05/2020/QĐ-TTg, một số trạm thủy văn có liên quan trực tiếp đến địa bàn tỉnh Bắc Ninh hiện nay có các mức như sau:
| Sông – Trạm thủy văn | BĐ I | BĐ II | BĐ III |
|---|---|---|---|
| Sông Cầu – Đáp Cầu | 4,30 m | 5,30 m | 6,30 m |
| Sông Cầu – Phúc Lộc Phương | 6,00 m | 7,00 m | 8,00 m |
| Sông Thương – Phủ Lạng Thương | 4,30 m | 5,30 m | 6,30 m |
| Sông Thương – Cầu Sơn | 14,00 m | 15,00 m | 16,00 m |
| Sông Lục Nam – Lục Nam | 4,30 m | 5,30 m | 6,30 m |
| Sông Lục Nam – Chũ | 11,00 m | 12,00 m | 13,00 m |
| Sông Cẩm Đàn – Cẩm Đàn | 41,00 m | 43,00 m | 45,00 m |
| Sông Đuống – Bến Hồ | 6,80 m | 7,50 m | 8,40 m |
Như vậy, khi nghe thông báo “sông Cầu tại Đáp Cầu đạt BĐ III”, cán bộ phải hiểu rằng mực nước tại trạm Đáp Cầu đang ở mức khoảng 6,30 m, chứ không phải 3 m.
Tương tự, BĐ III tại Cầu Sơn là 16,00 m, trong khi BĐ III tại Phủ Lạng Thương chỉ là 6,30 m.
5. Cách đọc nhanh một bản tin mực nước sông
Ví dụ bản tin ghi:
“Mực nước sông Cầu tại trạm Đáp Cầu lúc 07 giờ là 6,70 m, trên BĐ III 0,40 m và tiếp tục lên.”
Cần đọc thành 04 thông tin:
Một là: Sông cần theo dõi: Sông Cầu.
Hai là: Điểm đo: Trạm thủy văn Đáp Cầu.
Ba là: Mực nước thực tế: 6,70 m.
Bốn là: BĐ III tại Đáp Cầu là 6,30 m, do đó nước đang cao hơn BĐ III 0,40 m và vẫn tiếp tục lên.
Đối với người trực trạm bơm, từ thông tin trên phải lập tức liên hệ với tình trạng thực tế tại trạm: mực nước bể hút bao nhiêu, mực nước phía sông bao nhiêu, cửa xả có an toàn không, có nguy cơ nước chảy ngược không và điều kiện vận hành máy bơm hiện tại như thế nào.
6. Đặc biệt lưu ý đối với các trạm bơm tiêu thoát nước
Mực nước sông càng cao thì khả năng tiêu thoát nước từ đô thị ra sông càng bất lợi.
Vì vậy, cán bộ vận hành không được chỉ nhìn vào việc trong đô thị đang ngập mà cho rằng cứ bật máy bơm là tốt.
Trước khi vận hành phải đồng thời xem xét:
Mực nước trong hệ thống + mực nước bể hút + mực nước ngoài sông + tình trạng cửa xả/cửa van + khả năng thoát nước + quy trình vận hành + chỉ đạo của cơ quan có thẩm quyền.
Khi nước ngoài sông dâng cao, phải đặc biệt đề phòng hiện tượng nước sông chảy ngược vào hệ thống thoát nước, gây gia tăng ngập úng hoặc ảnh hưởng đến an toàn công trình.
Thực tế tại Bắc Ninh cho thấy trong các đợt mưa lũ lớn, mực nước nhiều sông có thể đồng thời lên mức BĐ II, BĐ III hoặc trên BĐ III. Trong đợt lũ tháng 10/2025, cơ quan chức năng từng ghi nhận sông Thương tại Cầu Sơn và Phủ Lạng Thương, sông Cầu tại Đáp Cầu ở trên BĐ III.
7. Công thức dễ nhớ cho cán bộ trực trạm
BĐ I → THEO DÕI SÁT
BĐ II → CHỦ ĐỘNG ỨNG PHÓ
BĐ III → ĐẶC BIỆT CẢNH GIÁC
TRÊN BĐ III → TÌNH HUỐNG NGUY HIỂM CAO, TUÂN THỦ NGHIÊM CHỈ ĐẠO VÀ QUY TRÌNH VẬN HÀNH
Điều quan trọng nhất là: không chỉ biết sông đang ở báo động mấy mà phải biết nước đang lên hay xuống, cao hơn hoặc thấp hơn báo động bao nhiêu mét và điều đó ảnh hưởng như thế nào đến trạm bơm mình đang quản lý.
Mỗi cán bộ vận hành cần hình thành thói quen:
Đọc bản tin – Xác định trạm thủy văn – So với cấp báo động – Xem xu thế nước lên/xuống – Kiểm tra thực tế tại trạm – Báo cáo – Vận hành đúng quy trình.
Chủ động nắm chắc thông tin mưa, lũ và mực nước sông chính là một trong những điều kiện quan trọng để vận hành trạm bơm an toàn, phòng chống ngập úng hiệu quả và bảo đảm an toàn cho người, thiết bị và công trình.
TRUNG TÂM THOÁT NƯỚC VÀ XỬ LÝ NƯỚC THẢI


