Quá trình đô thị hóa nhanh đang đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với công tác thoát nước, thu gom và xử lý nước thải. Đặc biệt tại các khu dân cư cũ đã hình thành từ nhiều năm, việc đầu tư bổ sung hệ thống thu gom nước thải riêng gặp rất nhiều khó khăn do đường giao thông nhỏ hẹp, nhà ở xây dựng dày đặc, hệ thống cống thoát nước, cấp nước, điện, viễn thông, cáp quang và các công trình ngầm khác đan xen, quỹ đất dành cho hạ tầng kỹ thuật gần như không còn.
Trong điều kiện đó, nếu chỉ đặt bài toán thu gom toàn bộ nước thải về các nhà máy xử lý tập trung thì ở nhiều khu vực sẽ rất khó triển khai, chi phí đầu tư lớn và ảnh hưởng đáng kể đến đời sống người dân. Vì vậy, cùng với việc tiếp tục đầu tư hệ thống thu gom và xử lý tập trung, cần nghiên cứu một hướng tiếp cận linh hoạt hơn: xử lý nước thải ngay tại nguồn phát sinh hoặc theo từng cụm nguồn thải.
Từ thực tiễn Bắc Ninh đến vấn đề được đặt ra tại Quốc hội
Xử lý nước thải tại nguồn không chỉ là vấn đề xuất phát từ thực tế quản lý đô thị, mà đã được đặt ra tại nghị trường Quốc hội.
Tại Quốc hội, đại biểu Phạm Văn Thịnh, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Bắc Ninh, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Ninh, đã đề cập đến mô hình xử lý nước thải tại nguồn và cho biết Bắc Ninh đang triển khai thí điểm mô hình này, bước đầu cho thấy hiệu quả tích cực. Theo thông tin đại biểu nêu, chi phí xử lý ở mức thấp, nước sau xử lý đạt yêu cầu để xả ra môi trường; đồng thời dẫn kinh nghiệm của Nhật Bản, nơi mô hình xử lý nước thải tại nguồn đã được áp dụng từ lâu.
Đại biểu cũng đề nghị các cơ quan liên quan nghiên cứu, khảo sát trực tiếp công nghệ để xem xét khả năng nhân rộng.
Đây là một gợi mở rất đáng chú ý đối với công tác quản lý nước thải đô thị hiện nay, nhất là tại các khu dân cư cũ - nơi rất khó tiếp tục mở rộng hệ thống cống thu gom theo phương thức truyền thống.
Không chỉ “thu gom rồi xử lý”, mà phải kiểm soát từ nguồn
Vấn đề cần thay đổi trước hết là tư duy quản lý.
Thay vì để toàn bộ nước thải và chất ô nhiễm đi vào hệ thống cống rồi mới xử lý ở cuối nguồn, cần nghiên cứu mô hình:
Xử lý tại nguồn – xử lý theo cụm – thu gom – xử lý tập trung.
Mỗi loại nguồn thải có thể áp dụng một giải pháp phù hợp.
Đối với hộ gia đình, có thể nghiên cứu thiết bị xử lý nước thải quy mô nhỏ.
Đối với nhóm hộ hoặc các ngõ nhỏ, có thể sử dụng chung một mô-đun.
Đối với trường học, trụ sở cơ quan, chung cư, khách sạn, khu dịch vụ, có thể bố trí thiết bị hợp khối với công suất phù hợp.
Riêng đối với nhà hàng, bếp ăn và cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống, cần đặc biệt kiểm soát dầu mỡ ngay tại nguồn. Dầu mỡ nếu không được tách trước khi xả vào hệ thống thoát nước sẽ bám vào thành cống, hố ga, kết hợp với rác và cặn lắng gây tắc nghẽn, phát sinh mùi và làm tăng đáng kể chi phí duy tu, nạo vét.
Nguyên tắc cần hướng tới là:
Chất ô nhiễm nào có thể kiểm soát ngay tại nơi phát sinh thì cần ưu tiên xử lý ngay tại nơi phát sinh.
Công nghệ phải nhỏ gọn, dạng tủ hoặc mô-đun chế tạo sẵn
Muốn xử lý nước thải tại nguồn có thể triển khai rộng rãi, công nghệ phải thực sự phù hợp với điều kiện của người dân.
Không thể yêu cầu mỗi hộ gia đình phải xây dựng một trạm xử lý phức tạp, nhiều bể bê tông, diện tích lớn và khó vận hành.
Hướng cần nghiên cứu là các thiết bị xử lý nước thải hợp khối, dạng tủ hoặc mô-đun chế tạo sẵn, có kích thước nhỏ gọn, lắp đặt nhanh, ít chiếm diện tích, vận hành đơn giản.
Thiết bị cần được thiết kế gần giống một sản phẩm công nghiệp hoàn chỉnh: sản xuất sẵn tại nhà máy, đưa đến công trình, đấu nối đầu vào - đầu ra và vận hành.
Các tiêu chí cần ưu tiên là:
-
nhỏ gọn, phù hợp không gian đô thị;
-
ít phát sinh mùi và tiếng ồn;
-
tiêu thụ ít điện;
-
vận hành đơn giản;
-
dễ bảo trì, thay thế linh kiện;
-
chất lượng nước sau xử lý ổn định;
-
giá thành hợp lý.
Mục tiêu giá thành dưới 50 triệu đồng cho một hộ gia đình
Bài toán kinh tế là yếu tố quyết định khả năng nhân rộng.
Nếu thiết bị cho một hộ dân có giá quá cao thì dù công nghệ tốt đến đâu cũng rất khó triển khai đại trà. Vì vậy, có thể đặt mục tiêu nghiên cứu, lựa chọn và từng bước nội địa hóa công nghệ để tổng mức đầu tư cho một hộ gia đình ở mức dưới khoảng 50 triệu đồng, thậm chí thấp hơn khi sản xuất với số lượng lớn.
Mức dưới 50 triệu đồng nên được coi là mục tiêu về giá thành để các doanh nghiệp, viện nghiên cứu và đơn vị công nghệ cùng giải bài toán.
Khi thiết bị đủ gọn, đủ bền, dễ sử dụng và có giá thành phù hợp, khả năng người dân tự nguyện đầu tư sẽ cao hơn rất nhiều.
Cần có chính sách hỗ trợ để tạo động lực cho người dân
Tuy nhiên, bảo vệ môi trường là lợi ích chung của toàn xã hội nên không nên đặt toàn bộ trách nhiệm đầu tư lên từng hộ dân.
Tỉnh có thể nghiên cứu cơ chế hỗ trợ một phần kinh phí đối với các thiết bị xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn kỹ thuật.
Có thể áp dụng theo hướng:
Nhà nước hỗ trợ một phần – người dân đóng góp một phần – doanh nghiệp cung cấp công nghệ – cơ quan chuyên môn kiểm soát chất lượng.
Đối với các khu dân cư cũ đặc biệt khó đầu tư hệ thống thu gom hoặc khu vực có nguy cơ ô nhiễm cao, mức hỗ trợ có thể được ưu tiên hơn.
Đối với hộ nghèo, hộ cận nghèo, gia đình chính sách hoặc các trường hợp có hoàn cảnh khó khăn, có thể nghiên cứu cơ chế hỗ trợ cao hơn, thậm chí hỗ trợ toàn bộ thiết bị thông qua các chương trình bảo vệ môi trường, an sinh xã hội, nguồn xã hội hóa, tài trợ của doanh nghiệp hoặc các tổ chức trong và ngoài nước.
Mục tiêu là không để điều kiện kinh tế của từng hộ gia đình trở thành rào cản đối với mục tiêu bảo vệ môi trường chung.
Không nhất thiết mỗi hộ phải có một thiết bị
Xử lý tại nguồn không nên được hiểu cứng nhắc là mỗi nhà phải lắp một máy riêng.
Tùy điều kiện thực tế, có thể áp dụng linh hoạt:
-
một hộ một thiết bị;
-
một nhóm hộ dùng chung một mô-đun;
-
một cụm dân cư dùng chung hệ thống công suất lớn hơn;
-
trường học, cơ quan, chung cư, nhà hàng sử dụng thiết bị theo quy mô riêng.
Cách làm này giúp giảm suất đầu tư trên mỗi hộ, tiết kiệm diện tích và thuận lợi hơn trong quản lý vận hành.
Cần thí điểm, đánh giá thực chất trước khi nhân rộng
Trước khi triển khai diện rộng, cần lựa chọn một số mô hình điển hình để thí điểm.
Có thể lựa chọn:
-
một khu dân cư cũ rất khó đầu tư hệ thống thu gom;
-
một tuyến phố tập trung nhiều nhà hàng để thí điểm kiểm soát dầu mỡ;
-
một nhóm hộ dân sử dụng chung mô-đun;
-
một trường học hoặc trụ sở cơ quan;
-
một số hộ nghèo để thí điểm cơ chế hỗ trợ toàn bộ.
Các mô hình cần được theo dõi đủ thời gian để đánh giá thực chất về:
-
chất lượng nước trước và sau xử lý;
-
tính ổn định của thiết bị;
-
mức tiêu thụ điện;
-
lượng bùn phát sinh;
-
mùi và tiếng ồn;
-
chi phí bảo trì;
-
tuổi thọ thiết bị;
-
khả năng vận hành của người dân;
-
tổng chi phí trong suốt vòng đời;
-
mức độ sẵn sàng đầu tư và chấp nhận của cộng đồng.
Chỉ những công nghệ được kiểm chứng trong điều kiện thực tế mới nên được đưa vào danh mục khuyến nghị hoặc cơ chế hỗ trợ.
Hướng đi phù hợp với yêu cầu phát triển mới của Bắc Ninh
Bắc Ninh đang bước vào một giai đoạn phát triển mới với yêu cầu ngày càng cao về chất lượng đô thị, hạ tầng kỹ thuật và bảo vệ môi trường.
Một đô thị hiện đại không chỉ được đánh giá bằng những tuyến đường rộng, các khu đô thị mới hay công trình kiến trúc đẹp. Chất lượng đô thị còn thể hiện ở chính những hạ tầng ít nhìn thấy nhất: hệ thống thoát nước, thu gom và xử lý nước thải, khả năng kiểm soát ô nhiễm và chất lượng môi trường sống của người dân.
Vì vậy, cùng với việc tiếp tục đầu tư hoàn thiện hệ thống thu gom và các nhà máy xử lý nước thải tập trung, xử lý nước thải tại nguồn cần được xem là một hướng nghiên cứu quan trọng, đặc biệt đối với những khu dân cư hiện hữu khó cải tạo hạ tầng.
Nếu lựa chọn được công nghệ phù hợp, kiểm soát tốt chất lượng, có cơ chế hỗ trợ hợp lý và tổ chức thí điểm bài bản, mô hình này hoàn toàn có thể trở thành một giải pháp bổ sung hiệu quả cho công tác quản lý nước thải đô thị của Bắc Ninh.
Thông điệp cần hướng tới rất rõ ràng:
Không chờ ô nhiễm đi hết vào hệ thống rồi mới xử lý.
Hãy từng bước kiểm soát và xử lý ô nhiễm ngay từ nơi nó phát sinh.
TRUNG TÂM THOÁT NƯỚC VÀ XỬ LÝ NƯỚC THẢI
SỞ XÂY DỰNG BẮC NINH


